Tùy chọn này sẽ đưa trang chủ về bố cục mặc định.

Reset

Nghiệm thu đề tài khoa học: “Nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên bò do vi khuẩn và xây dựng phác đồ điều trị

Đã đăng vào 14 Th2, 2020 lúc 7:28

Hội đồng KH&CN tỉnh Bến Tre vừa tổ chức nghiệm thu đề tài khoa học: “Nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên bò do vi khuẩn gây ra và xây dựng phác đồ điều trị”. Đề tài do Bác sỹ thú y Ngô Hoàng Khanh và nhóm nghiên cứu Trung tâm Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre thực hiện.

Bò là một trong những vật nuôi chủ lực của tỉnh được xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị. Sau nhiều năm phát triển, hiện nay, tổng đàn bò toàn tỉnh đạt 220.000 con. Hầu hết các hộ gia đình, gia trại và trang trại đều nuôi bò giống sinh sản cung cấp cho nông dân chăn nuôi trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi bò sinh sản, ngoài các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nói chung thì bệnh viêm tử cung không kém phần nguy hiểm, bởi nó làm giảm khả năng sinh sản của chúng. Đây cũng là vấn đề mà người chăn nuôi quan tâm nhất. Xuất phát từ tình hình trên, Bác sỹ Thú y Ngô Hoàng Khanh và nhóm nghiên cứu Trung tâm Nông nghiệp Ứng dụng công nghệ cao đã thực hiện đề tài khoa học “Nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên bò do vi khuẩn gây ra và xây dựng phác đồ điều trị tại tỉnh Bến Tre”.

Sau 02 năm thực hiện, từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 11 năm 2019, nhóm nghiên cứu đã đánh giá tình hình bệnh viêm tử cung trên bò sinh sản tại 03 huyện Ba Tri, Thạnh Phú và Giồng Trôm. Kết quả điều tra, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò cái sinh sản là 7,3%. Bệnh thường xuất hiện chủ yếu ở những bò đẻ từ lứa thứ ba là 9,6%; lứa thứ 4 là 10,9%; lứa thứ năm là 12,3% và lứa thứ 7 trở lên là 10,5%. Trong đó, nhóm bò thịt nhiễm với tỷ lệ 59%; nhóm bò zebu nhiễm với tỷ lệ 40,9%. Bệnh viêm tử cung bò do các vi khuẩn gây ra là Escherichia Coli (Ét-che-ri-chi-a – Cô-li); Staphylococcus aureus (Sta-phy-lô-cô-cút – Ao-ri-ết); Streptococus (Strép-tô-cô-cút) và Salmonella (Sa-mô-nen-la). Nhóm nghiên cứu, lập kháng sinh đồ phát đồ điều trị bằng 02 phác đồ kháng sinh Amoxiline (A-mốc-xi-lin) và Tretacyclin (Tê-tra-ci-lin), kết quả, bò khỏi bệnh với tỷ lệ 95,4%.

Các thành viên Hội đồng KH&CN đánh giá nhóm tác giả đã hoàn thành mục tiêu, nội dung và các sản phẩm của đề tài.  Kết quả đề tài đã đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường. Phác đồ hiệu quả giúp cho công tác điều trị dễ dàng hơn, chi phí điều trị thấp hơn. Khi bò được điều trị khỏi bệnh, phối giống đậu thai, giá trị bò cái được nâng lên. Đề tài góp phần phát triển chăn nuôi bò cái hiệu quả, bền vững, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận khá lớn lao động nông thôn, ổn định xã hội. Sau khi đề tài kết thúc, cần tiếp tục triển khai, nhân rộng.

Cao Đẳng

Để lại nhận xét